Đời Tu

SỐNG TƯƠNG QUAN TRONG CỘNG ĐOÀN

Con người được Thiên Chúa dựng nên mang tính xã hội, nên con người luôn phải sống cùng, sống với những người khác. Đó chính là những tương quan của con người. Trong bài này, chúng tôi không nói đến những mối tương quan giữa con người và Đấng Sáng Tạo, hay mối tương quan với vũ trụ vạn vật, mà chỉ đề cập đến mối tương quan giữa người và người trong khuôn khổ đời sống cộng đoàn tu trì.

  1. Tương quan với bề trên

Một cộng đoàn tu trì, xét về mặt xã hội vẫn là một tập thể gồm có nhiều người khác nhau. Chính vì thế, để điều hành, cộng đoàn vẫn cần một người chỉ huy, mà chúng ta quen gọi là Bề trên. Theo cái nhìn của Giáo hội, Bề trên chính là vị đại Thiên Chúa để điều hành cộng đoàn, bởi lẽ mọi quyền bính của Bề trên đều xuất phát từ chính Thiên Chúa (GL 601, 608; PC 14).

Chính vì vậy, mối tương quan giữa các thành viên trong cộng đoàn với Bề trên được diễn tả qua đức vâng lời của họ đối với các vị. Nếu nói theo tiếng Việt, “vâng lời” có nghĩa là nghe và làm theo lời của một ai đó. “Lời” ở đây chính là sự chỉ dạy, khuyên răn hay sắp đặt… Còn trong đời tu, vâng lời không chỉ mang tính xã hội, mà còn phải đặt trong tương quan với Thiên Chúa. Vì thế, nếu các vị Bề trên là những người đại diện Thiên Chúa và mọi quyền bính của Bề trên đều đến từ Thiên Chúa, thì cốt lõi của đức vâng lời trong cộng đoàn chính là lắng nghe và đáp lại Lời của Thiên Chúa (x. Rm 10,16; 2Cr 7,15).

Như vậy, một khi đã khấn dòng và sống trong một cộng đoàn, mọi tu sĩ buộc phải vâng phục các Bề trên hợp pháp. Đồng thời, anh em phải mau mắn thi hành các huấn lệnh của Bề trên, không chỉ là những huấn dụ trực tiếp, mà còn thông qua hiến pháp, nội qui và các sắc lệnh hay các quyết định đã được ban hành trong thẩm quyền hợp pháp của các ngài. Khi vâng phục như thế, các tu sĩ sẽ trở nên giống Chúa Kitô hơn, nhờ vào việc tận hiến cho Thiên Chúa khi hi sinh ý riêng mình để tìm và thực thi thánh ý Thiên Chúa thông qua các mệnh lệnh của Bề trên (x. Pl 2,7-8).

Thiết nghĩ, trên đây là những điều căn cốt nhất giúp chúng ta sống tương quan với các Bề trên trong cộng đoàn. Nếu cốt lõi của đức vâng lời được đặt trong tương quan với Thiên Chúa, thì trong thực tiễn, chúng ta sẽ hiểu và loại trừ những hình thức vâng lời không đúng để tương quan của chúng ta với Bề trên được tốt hơn. Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng, ngày nay Giáo hội không còn ủng hộ việc các tu sĩ vâng lời “tối mặt” nữa. Các tu sĩ trong cộng đoàn răm rắp nghe theo mọi điều Bề trên nói như những con rô-bốt vô hồn, kể cả khi Bề trên truyền lệnh không đúng với chân lý khách quan, hoặc điều được chỉ định không phù hợp với vị thế của mình… Nếu vâng lời như thế, chúng ta sẽ đánh mất đi hình ảnh của con cái Thiên Chúa (x. PC 14). Cũng có không ít những tu sĩ, do sợ trách nhiệm, hoặc muốn lách luật… nên đã dùng “phép của Bề trên” để hợp thức hoá những việc, dù không sai luật, nhưng không nên hay không tương hợp với đời sống thánh hiến. Dẫu họ thừa hiểu rằng điều đó là không nên vì không tương hợp với đời tu, nhưng họ vẫn tìm cách để có được sự gật đầu của Bề trên. Để rồi sau đó, khi có người nói tới, ngay lập tức họ đổ thừa cho phép của Bề trên, hoặc để dập tắt mọi ý kiến trái ngược… Vì thế, trước khi xin phép điều gì, chúng ta phải tự mình nhận định theo lương tâm ngay chính xem điều mình sắp xin có tương hợp với đời tu không? Cũng không ít tu sĩ, do không hiểu về qui tắc điều hành, hoặc do muốn áp đặt ý riêng của mình cho Bề trên bằng các kiểu “chuyện đã rồi” hoặc “cầm đèn chạy trước ô tô”… Kể cả khi có người nhờ chúng ta với những công việc trong tầm tay, nhưng chúng ta cũng nên khôn ngoan để thỉnh ý Bề trên trước khi quyết định. Biết đâu Bề trên lại có một chương trình làm việc cụ thể cho chúng ta. Khi chúng ta tự ý quyết định, cộng đoàn rất dễ rơi vào thế bị động. Và nếu làm như thế, chắc chắn cộng đoàn sẽ bị rối loạn.

  1. Tương quan với anh em

Cộng đoàn tu trì là nơi qui tụ những con người cùng chung một lý tưởng sống khi chấp nhận bước theo Đức Kitô. Ở đó sẽ có những con người đến từ nhiều vùng khác nhau. Do vậy, sẽ có những khác biệt về văn hoá, hoàn cảnh, suy nghĩ và tài năng… giữa các thành viên. Tuy nhiên, do được thần khí Thiên Chúa thúc đẩy, mọi người sẽ sống chung với nhau dưới một mái nhà, chia sẻ cùng một đặc sủng Đấng Sáng Lập, một sứ vụ được trao phó, cùng nhau học tập, làm việc, cùng cầu nguyện và cử hành phụng vụ… Do có những đặc tính như thế, nên thần học đời tu luôn khẳng định, cộng đoàn tu trì được mô phỏng theo tinh thần của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi (Cv 2,42-46). Một cộng đoàn hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ trong một tình yêu duy nhất là tình yêu Chúa Kitô.

Chính vì vậy, mối tương quan giữa anh em với nhau trong cộng đoàn phải được xây dựng trong mối tương quan huynh đệ. Ở nơi đó, người ta sẽ không đối xử với nhau theo kiểu một công ty, với những ràng buộc bằng những điều khoản trong hợp đồng lao động, để rồi việc ai nấy làm không ai đụng đến ai, thậm chí là không cần phải quan tâm đến việc của người khác. Nơi cộng đoàn tu trì, người ta cũng không đối xử với nhau theo kiểu trại lính, nơi chỉ biết đến thiết quân luật mà không hề quan tâm tới tâm trạng hay hoàn cảnh của người khác.

Có thể nói sự tương quan giữa các thành viên trong cộng đoàn nó gần giống với sự liên hệ giữa các anh chị em trong một gia đình hiện đại. Trong mỗi một gia đình hiện đại, vẫn có những qui định chung cho mọi người, nhưng nó không cứng ngắc theo kiểu thiết quân luật, để rồi hở một chút là mang luật ra phang vào mặt nhau. Trái lại, vì liên đới với nhau trong tình yêu thương của một gia đình, mà những thành viên của một gia đình có thể nhường nhịn lẫn nhau, có những lúc “chín bỏ làm mười”. Lại nữa, trong một gia đình dẫu rằng có sự phân công công việc, nhưng không ai sống trong một gia đình mà phủi tay khi đã xong việc của mình. Trái lại, các thành viên trong một gia đình yêu thương luôn hỗ trợ lẫn nhau để tất cả cùng hoàn tất một cách tốt đẹp nhất, nhằm vun xén cho một mục tiêu chung của cả gia đình. Có thể nói, tình huynh đệ sẽ dạy cho con người ta biết không tính toán thiệt hơn, không chấp nhất nhỏ nhen, và đặc biệt không loại trừ những thành phần thấp kém, yếu ớt hơn những người khác.

Nói tóm lại, như anh chị em trong một gia đình, các thành viên trong một cộng đoàn phải biết xây dựng tương quan với nhau trong sự chân thành và tình thương. Muốn được như thế, mỗi người phải biết từ bỏ cái tôi ích kỷ, để cùng nhau xây dựng “cái chúng ta”. Đồng thời, cũng phải biết thể hiện tình huynh đệ qua những cử chỉ yêu thương, phục vụ, nâng đỡ thật tâm với nhau… Khi đó, mỗi người sẽ cảm nhận rõ ràng lời của thánh vịnh 133: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau”.

  1. Tương quan với những người khác

Khi sống trong cộng đoàn, tương quan của chúng ta không chỉ bó gọn trong anh em với nhau. Nhưng còn có những tương quan với người khác nữa. Người khác ở đây là những người cộng tác với cộng đoàn, những vị khách, những liên hệ bên ngoài mang tính xã hội… Thiết nghĩ, một tu sĩ chân chính phải xây dựng những mỗi tương quan này xoay quanh đức bác ái Kitô giáo.

Vậy để một tu sĩ có thể sống tương quan với những người khác, trước hết họ phải hiểu và sống thật sự đức bác ái Kitô giáo. Khi định nghĩa về đức bác ái, Gm Phaolô Bùi Văn Đọc đã nói: “bác ái là yêu thương giống như Thiên Chúa”.[1] Vì như Chúa Giêsu đã nói trong Tin mừng Ga, 15,12: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Trong lá thư thứ nhất của mình, thánh Gioan cũng nói: “Thiên Chúa là tình yêu. Ai yêu thương thì sinh bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,7). Chúng ta cũng biết, yêu như Chúa yêu phải là một tình yêu vô vị lợi. Vì lẽ, yêu như Chúa yêu là một tình yêu siêu nhiên và tuyệt đối, một tình yêu không mong đáp đền, không xét đoán nhưng luôn tha thứ, thậm chí là phải yêu cả cừu nhân…[2] Và mẫu gương cho thứ tình yêu này chính là Đấng đã “hi sinh mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Như thế, khi liên hệ với những người khác, ngoài sự nhã nhặn và lịch sự, người tu sĩ trưởng thành phải đối xử với họ bằng một tình yêu thương vô vị lợi, phục vụ không mong đáp đền, không mang hơi hám tình cảm riêng tư… Đồng thời, khi tiếp xúc với họ, người tu sĩ phải hướng họ đến với tình yêu Thiên Chúa. Ngược lại, mọi tương quan của chúng ta, chẳng những không làm triển nở đức ái, mà còn có nguy cơ phương hại đến bản chất ơn gọi thì phải bị loại trừ trong đời sống của cộng đoàn.

Kết:

Đây chỉ là những điều căn cốt nhất để chúng ta dựa vào đó mà xây dựng các mối tương quan khi sống trong cộng đoàn tu trì. Lý thuyết là thế, nhưng trên thực tế sẽ có những tình huống xem ra không mấy rõ ràng để chúng ta có thể nhận định và ứng xử. Sẽ có những sự việc thấy vậy nhưng không phải vậy, khiến mọi người xung quanh hiểu lầm về các mối tương quan của chúng ta. Hoặc sẽ có những kẻ lợi dụng lý thuyết này để giải thích cho những việc làm mờ ám của họ. Chính vì thế, để có thể sống tốt các tương quan trong cộng đoàn, mỗi người cần phải có một lương tâm ngay thẳng và một tình yêu đơn thành. Chính tình yêu thương và lương tâm trong sáng sẽ mách bảo cho chúng ta, để chúng ta ứng xử tốt hơn trong khi chúng ta sống tương quan trong cộng đoàn.

Người Galilê

Tháng 01 năm 2018

[1] Gm Phao lô Bùi Văn Đọc, Bác Ái Và Các Nhân Đức, mục I.

[2] Xc. Người Galilê, Đời Tu Và Đức Bác Ái, mục 1.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close